Tiêu điểm

Nguy cơ tiềm ẩn thị trường Đài Loan

Các đơn vị đang thực hiện đưa lao động sang thị trường Đài Loan, nói: “Chúng tôi như ngồi trên đống lửa vì phía Đài Loan có thể dừng tiếp nhận lao động Việt Nam bất cứ lúc nào, do tình trạng người lao động bỏ trốn tràn lan”.

lao động

Cánh cửa khép lại

Theo những con số mới thống kê trong tháng 2 vừa qua trung bình có 800 lao động Việt Nam bỏ trốn khỏi các công ty để làm việc bất hợp pháp tại Đài Loan. Tháng 3 có hơn 1.000 lao động. Trung bình mỗi năm có tới 6.600 lao động bỏ trốn, chiếm khoảng 8%/năm so với tổng số lao động Việt Nam có mặt ở vùng lãnh thổ này.
“Đài Loan đang có nguy cơ ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam nếu chúng ta không có biện pháp mạnh”
Số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết, trong tổng số hơn 60.000 lao động Việt Nam làm việc tại Hàn Quốc, có 8.780 người đang cư trú bất hợp pháp, còn tại Malaysia số lao động bất hợp pháp là 13.515 người.
Cũng theo Cục Quản lý lao động ngoài nước cho biết, năm 2012, Việt Nam dự kiến sẽ đưa khoảng 90.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, chỉ nhỉnh hơn một chút so với con số 88.298 lao động của năm 2011.
Việc bỏ trốn khỏi nơi làm việc và ở lại bất hợp pháp của lao động Việt Nam chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến uy tín về chất lượng lao động, khiến cho cánh cửa đối với người đi xuất khẩu dần khép lại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến một ngành mang lại gần 2 tỉ đô la Mỹ tiền mặt mỗi năm.

Đi tìm nguyên nhân

TS Phạm Đỗ Nhật Tân – Hiệp hội Xuất khẩu lao động (XKLĐ) cho rằng, nguyên nhân chính khiến người lao động bỏ trốn là họ phải nộp mức phí quá cao. Vì vậy họ thường bỏ trốn trước khi kết thúc hợp đồng 3 năm, để kéo dài thời gian làm việc ở nước ngoài, nhằm kiếm tiền bù đắp lại.
Ông Tân đưa ra công thức mà ông cho rằng người lao động chấp nhận được: “Đi 3 năm mất 1 năm”. Nghĩa là người lao động có 2 năm để tích lũy tiền cho mình, còn năm đầu là trừ vào chi phí. Tuy nhiên, ông Tân cho hay, thực tế có nhiều lao động “đi 3 năm mất gần 3 năm”. Vì thế họ bỏ trốn là dễ hiểu.
Số liệu điều tra thực tế của Uỷ ban lao động Đài Loan đối với lao động các nước nhập cảnh tại sân bay trong 2 năm 2010 và 2011 cho thấy, mỗi lao động Việt Nam phải chi trung bình khoảng 5.600 – 6.000 đô la Mỹ/người. Thậm chí có một số lao động bị thu đến khoảng 6.500 – 7.000 đô la/người. Mức này cao hơn rất nhiều so với chi phí của lao động Thái Lan, Philippines và Indonesia.
Sở dĩ người lao động bị thu phí nhiều như vậy, theo ông Tân, là do họ phải qua quá nhiều khâu tuyển dụng, nghĩa là có quá nhiều đầu mối tuyển chọn lao động.
Anh Nguyễn Ngọc Chiến (Phú Thọ) từng đi XKLĐ ở Hàn Quốc cho biết, mức phí phải trả ghi trong hợp đồng là 675 đô la, nhưng thực tế để đặt chân đến xứ người, anh phải bỏ ra 6.000 đô la, gấp gần 10 lần chi phí cam kết. Thậm chí có người anh biết còn mất tới 15.000 đô la.
Ông Lê Minh Đức – Công ty Đầu tư và Thương mại CTM thừa nhận: “100% doanh nghiệp đều thu quá quy định”.
Lý giải cho điều này, ông Đức cho rằng, các mức phí đã ban hành từ năm 2008 không theo kịp giá cả thị trường, nên doanh nghiệp phải… tự vi phạm.
Thứ hai, để tìm được lao động, doanh nghiệp phải trải qua nhiều tầng lớp trung gian nên đội chi phí. Tuy nhiên, ông Đức khẳng định: phí cao chỉ là một phần trong nguyên nhân bỏ trốn của lao động. Còn nhiều nguyên nhân khác, trong đó có ý thức thích tự do của người lao động.
TS Phạm Đỗ Nhật Tân nêu hiện tượng: ở Đài Loan có khoảng 10 vạn cô dâu Việt. Nhiều cô dâu đã lôi kéo gạ gẫm lao động ngay tại sân bay, hứa bảo lãnh họ và xui họ trốn để tìm việc mới tự do hơn, với mức lương cao hơn, lại không bị ràng buộc.
Nhiều người đã nghe theo những lời phỉnh dụ này. “Làm ở ngoài không có bảo hiểm, và nếu bị bắt và đưa về nước sớm thì sẽ mất tất cả”, ông Tân cảnh báo.

Bình luận

Chúng tôi trân trọng mọi ý kiến đóng góp của bạn!

Từ khóa: , ,
Hotline: 0985 815 569